Video

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi ở ĐBSCL và một số giải pháp

Thứ ba, 11/10/2016 - 11:08

I. Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành chăn nuôi vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

     Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện là một trong những thách thức lớn nhất mà tất cả các quốc gia, các chính phủ, các tổ chức và các công dân đang phải đối mặt. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động nghiêm trọng đến mọi hoạt động sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn cầu. Để giải quyết những thách thức này đòi hỏi một nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế trong đó có Việt Nam. Dù ở mức độ quốc gia hay toàn cầu thì BĐKH luôn được xem là vấn đề nóng bỏng nhất và còn được coi là một vấn đề quan trọng tác động đến tiến trình phát triển bền vững hiện nay trên toàn thế giới.

     Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng, là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, động đất, sóng thần, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu nước ngọt và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm. Cụ thể như sau:

1.1. BĐKH làm nhiệt độ tăng cao gây ra hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi

     Theo Hoffman (2008), Trái đất nóng lên sẽ làm tăng stress nhiệt ở gia súc, gia cầm, làm giảm lượng thức ăn ăn vào của gia súc khi trời nắng nóng, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của gia súc, gia cầm.

     Hiện tượng nắng nóng trong mùa khô làm nhiệt độ tăng cao, lượng bốc hơi nước lớn, các con sông ngắn không dự trữ được nhiều nước trong mùa mưa gây nên tình trạng hạn hán rất nghiêm trọng tại ĐBSCL, tình trạng hạn hán kéo dài làm mất đi diện tích đất canh tác cây nông nghiệp và trồng cỏ do vậy sẽ làm thiếu hụt nguồn thức ăn chính cho gia súc.

     Tình trạng hạn hán kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến các nguồn cung cấp nước cho hoạt động chăn nuôi, thiếu nguồn nước tưới cho cây cỏ, làm năng suất cây trồng giảm đáng kể, năng suất chăn nuôi cũng giảm theo. Ngoài ra, nhiệt độ tăng cao vào mùa hè, độ ẩm không khí khá cao và có nhiều biến động là điều kiện để phát sinh các loại sâu bệnh như rầy nâu, sâu cuốn lá, bọ trĩ gây thiệt hại lớn đến một phần lúa và cây cỏ là những nguồn thức ăn cho vật nuôi.

     Khi nhiệt độ tăng kéo theo những thay đổi về thời tiết làm cho lượng mưa thay đổi, sẽ dẫn tới những thay đổi về dòng chảy của các con sông và làm tăng cường độ cũng như tần suất của các trận lũ. Các trận lũ kéo dài gây xói lở, sạt lở và ảnh hưởng trực tiếp đến các công trình chăn nuôi của người dân, làm thay đổi mùa vụ, gây ra thiệt hại về cây trồng cũng như vật nuôi.

1.2. BĐKH làm mực nước biển dâng gây tình trạng bão lũ, xâm nhập mặn dẫn đến thiếu diện tích đất trồng cỏ, thiếu nguồn nước ngọt, và làm giảm chất lượng nước cung cấp cho hoạt động chăn nuôi:

     Nước biển thì ngày càng có xu thế dâng cao, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Vùng Tàu, mực nước biển trung bình 50 năm qua đã tăng khoảng 12 cm. Triều cường trên nền nước biển dâng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng các vùng đất thấp, kể cả các thành phố ven biển ảnh hưởng triều như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long. Mực nước biển dâng cùng với giảm lưu lượng thượng nguồn, xâm nhập mặn sâu hơn.

     Theo những nghiên cứu gần đây Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia thiếu nước với tổng bình quân đầu người cả nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ là 4.400 m3/người/năm (so với bình quân thế giới là 7.400 m3/người, năm). Theo tính toán, nếu mực nước biển Việt Nam dâng 1 m thì 39% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập mặn. Các tỉnh như Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau là những nơi thường xuyên xẩy ra xâm nhập mặn. Hiện tượng xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa và sự nhiễm mặn của nước ngầm, tác động xấu tới việc phát triển của cây trồng và tài nguyên nước ngọt, làm cho cây cỏ trên vùng ĐBSCL không phát triển được, tình trạng kéo dài có thể bị chết, diện tích đất trồng cây nông nghiệp, trồng cỏ ngày càng bị thu hẹp, do đó đòi hỏi phải có giống cỏ chịu mặn để có thể chống chọi với thời tiết để có thể cung cấp đầy đủ thức ăn cho gia súc.

     Bên cạnh đó hiện tượng xâm nhập mặn còn khiến tài nguyên nước ngọt khan hiếm, không đủ để cung cấp cho con người và vật nuôi, quá trình chăn nuôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Việc xâm nhập mặn do BĐKH gây ra không chỉ làm cho nguồn nước ngọt khan hiếm mà còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước do nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn quá cao. Khi đó việc gia súc, gia cầm sử dụng các nguồn nước ô nhiễm, không đạt tiêu chuẩn này làm phát sinh thêm nhiều bệnh tật, nguy hiểm đến sức khỏe vật nuôi. Việc xây dựng các công trình ứng phó với BĐKH như các cống, đập ngăn mặn, các đê bao phòng chống lũ, cũng làm tăng khả năng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến chất lượng nước.    

Việt Nam hiện đang là một trong những nước chịu sự tác động rõ rệt nhất của BĐKH. Tuy nhiên hiện nay, các chất thải vật nuôi ở nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng vẫn chưa được xử lý hoặc có xử lý nhưng công nghệ xử lý chưa triệt để, ngoài ra nhận thức của người chăn nuôi về bảo vệ môi trường đặc biệt là phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi còn hạn chế. Vì vậy việc xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình Hành động thích ứng và giảm thiểu BĐKH của Bộ NN&PTNT là hết sức cần thiết. Đối với ngành chăn nuôi, sự phát triển các giống vật nuôi, cần phải có chiến lược giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bởi vì chất thải chăn nuôi không được xử lý là một trong những "thủ phạm" gây biến đổi hiệu ứng nhà kính do các loại khí CO2, H2S, NH4… có trong phân và nước tiểu của động vật phát tán vào bầu khí quyển góp phần gây ra hiện tượng BĐKH.

II. Hậu quả của BĐKH đến ngành chăn nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

2.1.Thiếu nguồn thức ăn cho chăn nuôi

     Trong chăn nuôi, thức ăn là yếu tố quan trọng chiếm trên 60% trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có khoảng 320 ngàn ha đất nhiễm mặn (năm bình thường), nhưng vào năm hạn hán có khoảng 744 ngàn ha đất nhiễm mặn (18,9% diện tích ĐBSCL). Năm nay (2016), mực nước sông Mê Công xuống mức thấp nhất trong gần một thế kỷ qua. Tình trạng xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn cùng kỳ năm trước với độ mặn trên các sông chính tăng cao, thấm sâu vào nội đồng 40-60 km. Đến thời điểm hiện nay, toàn bộ các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bị xâm nhập mặn, trong đó 8 tỉnh đã công bố tình trạng thiên tai do hạn hán và xâm nhập mặn. Một số địa phương có diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại nặng: Kiên Giang 56,5 nghìn ha (mất trắng 35,3 nghìn ha); Cà Mau 48,6 nghìn ha; Trà Vinh 21,6 nghìn ha (mất trắng 5 nghìn ha); Bến Tre gần 20 nghìn ha (mất trắng 14,7 nghìn ha); Long An 8,6 nghìn ha (mất trắng 1,1 nghìn ha). Như vậy diện tích đất trồng cây nông nghiệp giảm, sản lượng cây trồng giảm sẽ kéo theo thiếu nguồn thức cho gia súc, gia cầm. Đồng thời diện tích đồng cỏ cho chăn nuôi cũng bị giảm và một số giống cỏ cũng bị mất đi do không thích nghị với vùng đất nhiễm mặn.

     Nguồn thức ăn tại địa phương bị thiếu hụt sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng đó là: giá thức ăn tăng cao, mất ngoại tệ để nhập thức ăn chăn nuôi từ bên ngoài. Đồng thời thiếu thức ăn sẽ giảm khả năng sản xuất của vật nuôi và nguy cơ dịch bệnh xẩy ra rất lớn sẽ thiệt hại cho người chăn nuôi nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung. Tại một số tỉnh ĐBSCL như Bến Tre do hạn hán kéo dài đã làm thiếu nguồn thức ăn xanh cho gia súc, ngay cả rơm cũng không đủ cho bò ăn, tgiá rơm tăng cao, làm tăng giá thành chăn nuôi. Tại một số huyện của tỉnh Sóc Trăng do xâm nhập mặn đã gây thiệt hại đến hàng trăm ha đồng cỏ của nhiều hộ chăn nuôi kém phát triển và chết.

2.2. Thiếu nguồn nước uống cho chăn nuôi

     BĐKH sẽ làm nhiệt độ tăng cao hơn và thay đổi lượng mưa. Hậu quả là thay đổi nguồn cung cấp nước toàn cầu trong tương lai. Điều này sẽ không chỉ ảnh hưởng đến nguồn nước uống chăn nuôi, mà nó cũng ảnh hưởng đến các hệ thống sản xuất thức ăn chăn nuôi và năng suất đồng cỏ. BĐKH làm gia tăng t́nh trạng khan hiếm nước và đẩy chí phí cung cấp nước cho chăn nuôi tăng cao.

     Nguồn nước bị nhiễm mặn 1-2 %o sẽ gây xáo trộn tiêu hóa trên gia cầm, độ mặn trên 2%o có thể gây viêm thận, ngộ độc. Đối với heo (độ mặn trên 4%o), trâu, bò (độ mặn trên 7%o) có thể sẽ gây xáo trộn tiêu hóa, tiêu chảy. Khi đó, sức đề kháng của vật nuôi sẽ giảm, tạo điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật có hại xâm nhập gây nên bệnh, dịch nguy hiểm như: Newcastle ở gà, E.Coli, phó thương hàn ở heo. Khi bệnh, dịch truyền nhiễm đã xảy ra ở vật nuôi sẽ đe dọa phát sinh vấn đề ô nhiễm môi trường.

     Thực tế tại các tỉnh ĐBSCL một số nơi nguồn nước đã bị nhiễm mặn và nhiễm phèn vì vậy không những khan hiếu nước cho ngành chăn nuôi mà con người cũng thiếu nước sinh hoạt. Theo dự báo trong tương lai ngành chăn nuôi không những thiếu nguồn nước cung cấp mà chi phí trả cho việc cung cấp nước cũng tăng lên và kéo theo chi phí sản xuất chăn nuôi tăng cao.

     Thiếu nước sẽ làm cho gia súc, gia cầm giảm khả năng ăn vào, giảm tỷ lệ tiêu hóa, ảnh hưởng đến khả năng sản suất đặc biệt là làm cho gia súc chết. Tại Bến Tre người chăn nuôi phải pha nước ngọt với nước mặn theo tỷ lệ 50/50 cho bò uống. Thiếu nước đã làm cho hàng trăm ngàn gia súc chết và đang đe dọc hàng triệu gia súc ở vùng ĐBSCL.

2.3. Suy giảm sức khỏe và khả năng sản xuất của vật nuôi

     BĐKH làm giảm  chất lượng thức ăn, thiếu hụt nguồn nước sạch, nhiệt độ tăng cao, giảm khả năng ăn vào của vật nuôi và làm mất cân bằng môi trường sinh thái. Hậu quả của sự thay đổi này là làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, làm gia tăng khả năng bùng phát và lây lan dịch bệnh đồng thời làm giảm khả năng sản xuất của vật nuôi kéo theo hiệu quả chăn nuôi thấp.

     BĐKH làm cho khí hậu thay đổi thất thường, khi nhiệt độ tăng cao làm ảnh hưởng đến mức chịu đựng của một số loài, môi trường sinh thái xấu đi tạo điều kiện cho một số vi sinh vật có hại gây bệnh cho vật nuôi. Thực tế cho thấy BĐKH khiến mầm bệnh gây hại cho vật nuôi có biến đổi khó lường,dịch bệnh ngày càng gia tăng,  tất cả đều tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi.

     Ở vùng ĐBSCL, trong những năm vừa qua tình hình dịch bệnh trên gia súc-gia cầm (Tai xanh, Lở mồm Long Móng, Cúm H5N1,…) không ngừng bùng phát với diễn biến và cường độ ngày càng phức tạp, hậu quả là mỗi năm hàng trăm nghìn gia súc, gia cầm bị chết, thiệt hại năng nề cho người chăn nuôi.

III. Một số giải pháp trong chăn nuôi để thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng ĐBSCL

     Ngành chăn nuôi ở vùng ĐBSCL trong những năm qua mặc dù đã được các cấp chính quyền quan tâm, nhưng nhìn chung số lượng gia súc, gia cầm có dấu hiệu giảm. Số lượng vật nuôi theo thống kê năm 2015 so với năm 2012 như sau: số lượng trâu giảm  16,75%, đàn heo giảm 3,59% đặc biệt là đàn gia cầm giảm 5%, chỉ có số lượng đàn bò tăng 9,62%. Điều này cho thấy có sự ảnh hưởng của BĐKH đến ngành chăn nuôi trong khu vực ĐBSCL. Để phát triển ngành chăn nuôi vùng ĐBSCL theo hướng bền vững, Cần có giải pháp để ngành chăn nuôi thích ứng với tình hình BĐKH hiện nay như sau:

1. Cơ cấu giống vật nuôi

     Tùy theo điều kiện của từng địa phương (thị trường, trình độ kĩ thuật, điều kiện tự nhiên ....): xây dựng, phát triển cơ cấu giống vật nuôi phù hợp. Ưu tiên chọn giống vật nuôi không cạnh tranh lương thực với con người, chỉ sử dụng nguồn phế phụ phẩm cho nông nghiệp, ít chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nhiệt độ, ít sử dụng nguồn nước, dể quản lí dịch bệnh.

     Giống vật nuôi: đối với những trang trại chăn nuôi lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, cần chọn những con giống có khả năng mang lại giá trị gia tăng cao. Đối với chăn nuôi nông hộ ưu tiên chọn giống bản địa, giống lai đã thích nghi với điều kiện tại địa phương.

2. Phương thức chăn nuôi: cần phải thay đổi phương thức chăn nuôi  phù hợp để đáp ứng và thích nghi với sự biến động của nhiệt độ cao, thiếu nước trong chăn nuôi.

     Đối với trang trại chăn nuôi heo và gia cầm qui mô lớn cần nuôi trong hệ thống chuồng lạnh. Đối với chăn nuôi nông hộ và trâu bò thì cần cải tiến tiểu khí hậu chuồng nuôi như: hệ thống làm mát, trồng cây bóng mát xung quanh chuồng nuôi.

     Để góp phần đáp ứng hiện tượng thiếu nước trong chăn nuôi cần có những giải pháp quản lý, dự trữ nguồn nước sạch hiệu quả như: khoan giếng, đắp đập ngăn mặn cục bộ, xây thêm hồ chứa nước, đào ao trải bạt hoặc dùng bao nilon chứa nước dưới ao. Phải kiểm tra độ mặn của nước trước khi dự trữ và sử dụng. Hạn chế sử dụng nước mặn để dội rửa chuồng, máng ăn, máng uống và thường xuyên vệ sinh cơ thể vật nuôi.

     Nghiên cứu giải pháp tái sử dụng nguồn nước sinh hoạt phục vụ chăn nuôi.

     Ngoài ra để tiết kiệm nước trong chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh chúng ta nên ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm trên đệm lót sinh học và kỹ thuật chăn nuôi vịt trên cạn.

     Để phòng, chống dịch bệnh trong thời điểm nắng nóng, nhiệt độ cao như hiện nay, người chăn nuôi không nên tăng đàn, nên điều chỉnh lại mật độ chăn nuôi trong từng ô chuồng, dãy chuồng; gia tăng sự thông thoáng, lưu thông không khí trong khu vực chăn nuôi bằng hệ thống quạt gió, hệ thống phun nước làm mát. Điều chỉnh lại chế độ ăn uống cho phù hợp, trong những thời điểm nắng nóng; nên giảm bớt thức ăn tinh, thay vào đó là các loại thức ăn thô xanh, tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi (sử dụng thêm viatmin C, men tiêu hóa). Thu gom, xử lý ngay thức ăn còn thừa trong máng.

3. Nguồn thức ăn chăn nuôi

     Chuyển giao kỹ thuật cho người chăn nuôi để sử dụng nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương cho chăn nuôi từ ngành trồng trọt: cám, bắp, mì ... và nguồn phế phụ phẩm từ công nông nghiệp như: rơm lúa, ngọn mía, thân cây bắp, xác mì, hèm bia .... Để phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong chăn nuôi trâu, bò, dê, ngoài việc dự trữ rơm khô, các loại phế phụ phẩm khác, khai thác nguồn thức ăn xanh khác, người chăn nuôi nên chế biến và sử dụng các loại thức ăn ủ chua hoặc ủ urê để tăng khả năng tiêu hóa, giúp gia súc ăn vào nhiều hơn và sử dụng thức ăn hiệu quả hơn.

     Đối với nguồn thức ăn cho trâu bò cần chọn lọc giống cây cỏ làm thức ăn cho gia súc thích ứng với sự xâm nhập mặn, nhiễm phèn đã thích nghi tại địa phương để phát triển đồng cỏ.

     Nghiên cứu xây dựng khẩu phần ăn cho gia súc, gia cầm phù hợp với điều kiện của địa phương, đảm bảo năng suất, chất lượng sản phẩm vật nuôi, giảm phát thải khí nhà kính, giảm ô nhiễm môi trường.

4. Chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường

     Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi là vấn đề đang rất bức xúc, vì vậy chúng ta cần có một số giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững. Một số giải pháp được đề xuất đó là:

     - Kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm trên đệm lót sinh học, đặc biệt là chăn nuôi  heo trên đệm lót sinh học, chăn nuôi heo trên sàn.

     - Kỹ thuật chăn nuôi vịt trên cạn theo phương thức thâm canh.

     - Chăn nuôi gia súc có nước gắn với hệ thống biogas: giảm ô nhiễm, tiết kiện được nhiên liệu làm chất đốt.

     - Xây dựng hệ thống chăn nuôi kết hợp với trồng trọt.

     - Nghiên cứu xây dựng qui trình chăn nuôi gia súc gia cầm phù hợp với điều kiện tại địa phương theo hướng an toàn sinh học.

5. Qui hoạch và liên kết

     Mỗi địa phương cần qui hoạch vùng chăn nuôi tập trung phù với với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.

     Xây dựng cho được mối liên kết giữa người chăn nuôi với người chăn nuôi (Câu lạc bộ, hợp tác xã ...) từng bước tiến lên xây dựng chuỗi giá trị cho từng loại sản phẩm.

----------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

     http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1104/31503/bien-doi-khi-hau-va-nhung-tac-hai

     http://moitruongviet.edu.vn/tac-dong-cua-bien-doi-khi-hau-den-tu-nhien-va-xa-hoi/

     http://luanvan.co/luan-van/anh-huong-cua-bien-doi-khi-hau-moi-truong-den-chan-nuoi-va-chien-luoc-chan-nuoi-nham-giam-thieu-va-thich-ung-voi-bien-50083/

     http://www.mekongarcc.net/sites/default/files/vietnam_vietnamese_june2014-press.pdf

     http://tapchivatuyentap.tlu.edu.vn/Portals/10/So%2046/06-Doan%20Thu%20Ha.pdf

     http://123doc.org/document/1431098-anh-huong-cua-bien-doi-khi-hau-moi-truong-den-chan-nuoi-va-chien-luoc-chan-nuoi-nham-giam-thieu-va-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-moi-truong.htm

     http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/117766/39-dien-tich-dbscl-co-the-ngap-vao-nam-2100.html

     http://vietnamnet.vn/vn/khoa-hoc/169944/hieu-ung-nha-kinh-lam-giam-nang-suat-cay-trong.html

 

Nguồn: ThS. Đậu Văn Hải - BM MT&SKVN - Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ


Trở lại      In      Số lần xem: 1978
Tin tức khác
  • Vỗ béo bò thịt, hiệu quả kinh tế tăng 10 - 15%
  • Đột tử do xoắn ruột – dạ dày ở lợn
  • Ưu thế lai và giao phối cận huyết
  • Hệ số di truyền một số tính trạng trên lợn
  • Phương pháp chọn lọc giống lợn bằng phương pháp kết hợp di truyền số lượng và phân tích kiểu gen
  • Loài gà từ châu Á đến châu Phi thế nào?
  • Ảnh hưởng của mưa lũ miền Trung đến gia súc, gia cầm và biện pháp bảo vệ đàn gia súc, gia cầm trong mùa bão lũ
  • Infographic: Các chủng cúm gia cầm khác nhau
  • Một số tham khảo về phát thải khí và nước thải chăn nuôi
  • Thế giới và chăn nuôi bền vững
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến

Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ

Địa Chỉ : KP Hiệp Thắng, Phường Bình Thắng, TX Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

Điện thoại : 0650 3739.899,  Fax : 0650 3739.899

Website: www.iasvn.vn, Email: iasvn@iasvn.vn

 

 Trực tuyến :  2
 Tất cả:  1537051
Designed & Powered by WEB SO CO.,LTD