Video

Xây dựng trại bò thịt

Thứ sáu, 06/05/2016 - 11:17

 

1. Chọn đất lập trại

Quyết định khu đất lập trại bao giờ cũng là quyết định khó khăn đối với chủ trại, nhất là những người cầm tiền đi mua đất lập trại bò. Quyết định sai khi chọn khu đất không thích hợp cho nuôi bò sẽ phải trả giá đắt cho suốt quá trình sản xuất sau này.

Khi chuồng trại đã xây nên, đồng cỏ đã đầu tư thiết kế rồi thì không thể ngày một ngày hai mà di dời thay đổi được. Vì vậy, khi chọn đất lập trại cần phải xem xét các yếu tố chính sau đây:

- Diện tích và vị trí khu đất: Đất lập trại phải có diện tích đủ lớn để đáp ứng yêu cầu quy mô đàn theo phương án sản xuất hiện tại và khả năng phát triển sau này. Khu đất cần liền mảnh không bị phân cắt, không quá dốc, độ dốc dưới 15%. Khu đất có độ dốc cao thì khó canh tác và vận chuyển cỏ khi trồng thâm canh, có thể trồng cỏ để làm bãi chăn thả. Vị trí khu đất cần chọn nơi ít hoặc không bị ảnh hưởng bất lợi của thiên tai, có mưa thuận gió hòa. Không bị ngập lụt, lũ quét, không quá khô hạn kéo dài. Việc lựa chọn đất lập trại phải tính đến khả năng mở rộng quy mô sau này và sự ổn định của trại trong khoảng thời gian dài từ 20-40 năm sau.

- Chất lượng đất: Nuôi bò gắn liền với cây cỏ, vì vậy chọn đất lập trại cần căn cứ vào thảm thực vật và cây trồng trên đất. Đất tốt là đất màu mỡ, trên đó thảm cỏ tươi tốt, mùa khô hay mùa đông vẫn còn màu xanh của thảm cỏ. Đất phải có tầng canh tác dày, có khả năng giữ nước. Cây lâu năm mọc trên đất này sẽ là cây cao, bóng cả. Ngoài quan sát thảm cỏ cần tìm hiểu thêm thông qua các chỉ tiêu phân tích chất dinh dưỡng trong đất như độ mùn, hàm lượng N, P, K và độ pH (nếu có điều kiện). Đất tốt sẽ trồng được nhiều loại cỏ, năng suất cỏ cao khi chỉ cần bón ít phân, như vậy sẽ giảm chi phí sản xuất cỏ. Đất chua quá, phèn, mặn không phù hợp cho cây cỏ phát triển thì không nên chọn lập trại.

- Giao thông thuận tiện: Chăn nuôi bò luôn gắn với hoạt động vận chuyển thức ăn và sản phẩm là bò, bê, sữa. Thức ăn cho bò chủ yếu là thức ăn thô khối lượng lớn, cồng kềnh. Việc cung cấp thức ăn từ nơi khác về trại hoặc từ đồng cỏ về chuồng sẽ làm gia tăng chi phí vận chuyển nếu giao thông không thuận lợi. Trại bò làm sát đường giao thông chính cũng có những điều bất lợi, nếu cách trục giao thông chính 1-2km là thích hợp hơn cả.

- Nguồn nước: Nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, bò có thể nhịn ăn 1-2 ngày nhưng không thể nhịn uống một ngày. Vì vậy nước đối với trại bò vô cùng quan trọng. Cần xem xét cả nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Nguồn nước mặt như sông, suối, ao hồ vừa có tác dụng cung cấp nước cho bò, cho đồng cỏ mùa khô, còn có tác dụng cải tạo khí hậu của trại. Nguồn nước ngầm với trữ lượng lớn sẽ giảm chi phí khai thác nước từ giếng đào (giếng khoan) và cung cấp đủ nước sạch cho bò.

Nơi có nguồn nước ngầm phong phú thì tưới cỏ thâm canh vào mùa khô từ nước giếng đào tiết kiệm chi phí hơn bơm nước từ nguồn nước mặt cách xa.

- Nguồn thức ăn: Thức ăn cho bò rất phong phú và đa dạng, nhưng không phải đều có sẵn ở mọi nơi. Các vùng khác nhau thì nguồn thức ăn cho bò cũng khác 28 nhau về chủng loại, số lượng và thời vụ. Nguồn thức ăn chính cần xem xét là cỏ tự nhiên, các bãi chăn thả, các phụ phẩm nông nghiệp như rơm, thân lá cây bắp, cây đậu, ngọn mía, vỏ thơm, khô bã các loại, rỉ mật... Nếu nguồn thức ăn này sẵn có, đa dạng và gần trại sẽ giúp giảm chi phí thức ăn chăn nuôi sau này vì giá mua và giá vận chuyển thức ăn về trại sẽ thấp hơn.

- An toàn cho gia súc, tài sản và vệ sinh môi trường: Trại cần biệt lập với khu dân cư để an toàn dịch bệnh, an toàn về tài sản và đảm bảo vệ sinh môi trường.

- Nguồn điện: Trại bò cần điện để thắp sáng, chạy máy, bơm nước...

Tóm lại, khi lựa chọn khu đất lập trại cần xem xét các yếu tố thuận lợi của quá trình sản xuất. Giảm thấp chi phí đầu vào như lao động, giá thuê (mua) đất, giá cả các loại thức ăn tinh, thuốc thú y, các phụ phẩm nông công nghiệp cho bò như rơm rạ, hèm bia, xác đậu, xác mì, thân cây bắp... nhưng thuận tiện cho bán ra sản phẩm của trại như bê giống, bò thịt với giá cao.

Trại nuôi bò thịt kết hợp với nuôi bò sữa cần chú ý thêm các điều kiện khác như:

- Thị trường tiêu thụ sữa. Phải đảm bảo chắc chắn sữa làm ra được tiêu thụ dễ dàng và giá cả chấp nhận được.

- Hệ thống kỹ thuật và dịch vụ có sẵn như khuyến nông kỹ thuật, thú y, gieo tinh nhân tạo. Những hoạt động này được thực hiện bởi những cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao.

2. Quy hoạch tổng thể trại

Một trại bò thông thường có 2 phân khu với 2 chức năng khác nhau: Phân khu xây dựng cơ bản gồm chuồng trại, văn phòng, nhà kho, nhà ở cán bộ công nhân (gọi là khu trung tâm) và phân khu đồng cỏ. Nối 2 phân khu này là hệ thống đường giao thông nội bộ. Tỷ lệ sử dụng đất của 2 phân khu này thay đổi tùy thuộc vào mức độ đầu tư. Ước tỷ lệ đất cho xây dựng cơ bản và đường nội bộ, khoảng trống là 25%, diện tích đồng cỏ là 75% tổng diện tích trại.

Quy hoạch chung cho một trại nuôi bò

Hạng mục xây dựng cơ bản trong phân khu trung tâm của trại bò bao gồm:

- Chuồng nuôi bò

Các trại bò của chúng ta hiện nay chưa tiến tới trình độ chuyên môn hóa cao, trong một trại luôn tồn tại một cơ cấu đàn đầy đủ gồm bò cái sinh sản, bò tơ, bê và bò đực. Vì vậy khi thiết kế chuồng nuôi cần thiết kế riêng cho mỗi loại bò. Diện tích chuồng nuôi cần thiết cho mỗi loại bò như chuồng cho bò sinh sản, bò tơ, chuồng cách ly, chuồng bò đực giống cần căn cứ vào cơ cấu đàn và phương thức chăn nuôi.

Thí dụ trại A, bê đực và cái sinh ra giữ lại nuôi đến 18 tháng tuổi. Bê cái tơ sau 18 tháng chọn lọc thay thế một phần vào đàn cái sinh sản, số bê cái còn dư sẽ bán giống cùng với bê đực sau 18 tháng tuổi. Số gia súc có mặt trung bình trong năm là 336,3 con và có cơ cấu như sau: bò nuôi con 45,17 con chiếm tỷ lệ 13,43%; bò cạn sữa 92,92 con chiếm tỷ lệ 27,63 con, như vậy tỷ lệ bò cái sinh sản ước chiếm trên 40% tổng đàn (xem bảng 3.1).

Từ tỷ lệ này ta suy ra số đầu con gia súc mỗi loại cho những đàn có quy mô khác nhau. Từ số đầu con mỗi loại và yêu cầu diện tích chuồng nuôi (m2/con) để tính ra diện tích chuồng cần xây dựng cho mỗi loại gia súc trong trại.

- Khoảng cách giữa các dãy chuồng nuôi bò trong một khu trại cách xa nhau một khoảng ít nhất bằng 2 lần chiều cao của chuồng để chuồng thông thoáng. Trồng cây bóng mát vào khoảng trống để cải tạo điều kiện khí hậu trại bò khi thời nóng.

Chuồng cách ly và đực giống phải cách xa chuồng nuôi bò cái sinh sản và phía cuối gió, cuối nguồn nước thải. Chuồng nuôi bò đặt ở vị trí cao hơn đồng cỏ để thoát nước mưa, nước thải. Nước này gom vào bể chứa, kênh dẫn sử dụng để tưới đồng cỏ rất thuận tiện.

Bảng 3.1: Cơ cấu đàn bò thịt

 

- Các công trình hỗ trợ chăn nuôi: bao gồm nhà kho chứa thức ăn thô như rơm, cỏ khô; kho thức ăn tinh; nơi chế biến thức ăn; kho để thiết bị công cụ, phân bón, máy móc. Diện tích xây dựng đối với mỗi hạng mục công trình này phụ thuộc vào kế hoạch sản xuất và sử dụng thức ăn của trại, số lượng các loại máy móc, công cụ phục vụ chăn nuôi và sản xuất cỏ. Kho chứa rơm, cỏ khô thì tính dung tích chứa bao nhiêu mét khối. Giả sử rằng một con bò trưởng thành cần dự trữ 500kg rơm cho mùa khô, bê từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi trung bình cần 250kg, biết rằng 1m3 rơm khô có khối lượng 300kg, vậy nhu cầu rơm cần dự trữ và nhu cầu xây dựng kho chứa rơm cho trại 200 con như thí dụ ở trên là:

Nhu cầu rơm: (100 con x 500kg/con) + (100 con x 250kg)= 75.000kg (75 tấn)

Yêu cầu thể tích kho chứa: 75.000kg : 300kg/m3= 250 m3

Nếu kho rơm chất cao 3m ta có thể suy ra diện tích khu chứa rơm và diện tích kho cần xây. Theo cách tính trên, nhu cầu dự trữ rơm cho 1 bò tăng lên thì số m2 kho xây dựng của trại cũng tăng lên.

- Nơi làm việc và nơi ở của cán bộ, công nhân: Văn phòng trại, nhà ở công nhân, bảo vệ, các công trình phụ (WC, nhà tắm, bếp). Đây là những công trình thiết yếu phục vụ cho cán bộ và công nhân làm việc trực tiếp ngoài trại và có nhu cầu ăn ở tại trại. Diện tích xây dựng nhiều hay ít là tùy thuộc vào số người có nhu cầu. Kinh nghiệm cho thấy dù trại nhà nước hay trại tư nhân thì việc xây nhà ở cố định cho hộ cán bộ công nhân trong khu vực trung tâm trại sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lí, trước mắt cũng như lâu dài.

- Các hạng mục xây dựng khác: như tường rào khu trung tâm, cổng vào, đường trục chính, đường phụ, đường bò đi ra đồng cỏ chăn thả và từ đồng cỏ về, nơi chứa phân, đường tập kết phân và chuyển phân đi, đường dẫn cho bò lên xe khi xuất bán và bò từ xe xuống khi nhập ở ngoài vào đều phải tính toán đầy đủ, chính xác, khoa học và thẩm mỹ.

- Hệ thống cung cấp điện, nước: Nhu cầu điện và nước là không thể thiếu đối với một trại chăn nuôi bò. Điện không chỉ giúp thắp sáng mà còn để chạy máy băm cỏ, máy bơm nước cho bò uống, rửa chuồng, tưới cỏ khi cần... Giếng khoan lấy nước dưới lòng đất sẽ giúp chủ động nước cấp mùa mưa cũng như mùa nắng và an toàn vệ sinh phòng ngừa dịch bệnh hơn so với nước lấy từ ao hồ. Trong trại cần có satudo, bể chứa để cung cấp nước chủ động không chỉ cho bò mà cho sinh hoạt của nhân viên và phục vụ chăn nuôi ngay cả khi mất điện nhất thời.

Quy hoạch các hạng mục xây dựng trong trại phải đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ, tiện ích và có tính đến khả năng mở rộng trang trại sau này. Đối với trại nuôi kết hợp cả bò sữa thì phải thiết kế thêm nhà vắt sữa, nơi bảo quản sữa.

Quy hoạch cho những trại lớn

Tập trung số lượng gia súc quá lớn vào một khu trại sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lí kỹ thuật và tổ chức sản xuất. Với phương thức chăn nuôi bán thâm canh, trang trại có đầu gia súc lớn thì nên phân ra nhiều khu trại, mỗi khu trại nuôi từ 250- 300 con (tùy loại bò). Mỗi khu trại cách nhau 300-500m và nằm trên trục giao thông chính của trại. Trại có đàn gia súc lớn thì có thể hình thành khu trại chuyên biệt như khu trại A chỉ nuôi bê con sau cai sữa đến 12 tháng tuổi, khu trại B nuôi bò cái hậu bị từ 13 tháng tuổi đến trước khi sanh bê, khu trại C nuôi bò đực giống, bê đực sau 12 tháng tuổi nuôi thịt và khu trại D nuôi bò cái sinh sản. Trong mỗi khu trại cũng có các dãy chuồng nuôi khác nhau, mỗi dãy chuồng là một nhóm gia súc theo độ tuổi và tính biệt. Có văn phòng khu trại, kho chứa thức ăn, hệ thống cấp nước như một trại độc lập.

Vị trí đặt các khu trại nên phân bố đều trên toàn khu đất của trại. Điều này có lợi cho công việc quản lí toàn trại cũng như tiết kiệm được công và chi phí vận chuyển trong các khâu sản xuất.

3. Thiết kế chuồng nuôi bò

Mục đích của làm chuồng nuôi bò là để bò được sống trong môi trường tốt hơn so với sống ngoài tự nhiên, tránh được khí hậu và thời tiết khắc nghiệt như mưa, nắng, nóng, lạnh, gió mạnh, để con người tiện chăm sóc, quản lí và nuôi dưỡng theo khoa học, giữ gìn sức khỏe cho bò, vệ sinh sản phẩm và vệ sinh môi trường. Kết quả mong đợi là bò sẽ khỏe mạnh, ăn nhiều cho năng suất cao, người chăn nuôi thu được lợi nhuận cao từ đàn bò.

Những giống bò được cải tiến (bò lai) có năng suất cao hơn bò địa phương.

Những giống bò cao sản chuyên thịt có nguồn gốc ôn đới không thích hợp với môi trường nóng và ẩm độ cao như nước ta, vì vậy chuồng trại đối với chúng đặc biệt có ý nghĩa quan trọng. Những kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ thích hợp đối với bò sữa là dưới 22 độ C; bò thịt và bê con là dưới 27 độ C. Bò thịt có thể chịu được nhiệt độ mội trường cao hơn so với bò sữa, tuy vậy trên 27 độ C là bất lợi đối với chúng.

Miền Bắc nước ta mùa hè rất nóng, mùa đông rất lạnh, chuồng trại tất nhiên phải thỏa mãn yêu cầu mát về mùa hè, ấm vào mùa đông. Miền Nam nhiệt độ buổi trưa từ 33-36 độ C vì vậy thiết kế trại bò rất cần yêu cầu thông thoáng và mát mẻ.

Hiện nay, có nhiều trại bò thịt quy mô khác nhau thiết kế chuồng nuôi bò rất sáng tạo trên cơ sở những nguyên tắc căn bản của trại bò thịt theo mẫu trong nước và ngoài nước. Sẽ không có một bản vẽ tốt nhất, duy nhất áp dụng cho các trại khác nhau, nhưng có một câu hỏi chung: Cái gì là quan trọng khi thiết kế chuồng nuôi bò?

- Con bò phải được sống trong điều kiện thoải mái nhất, an toàn nhất nhưng đối với chủ trại thì chuồng ấy phải kinh tế và thích hợp nhất.

- Rất cẩn thận khi chọn điểm xây chuồng và khi thiết kế trên bản vẽ.

- Tham khao nhiều, chọn mẫu chuồng nuôi nào là phù hợp với trại mình và mỗi sự cải tiến mẫu hình từ trại khác khi thiết kế sẽ có lợi ích gì và làm thay đổi chi phí như thế nào.

- Chuồng theo hướng Đông-Tây để tránh nắng cho bò. Thông thoáng để giảm hậu quả của stress nhiệt nhưng không quá lạnh vào mùa đông.

- Giá xây dựng và thời gian sử dụng chuồng nuôi là tốt nhất, nghĩa là khấu hao chuồng trại trên một đơn vị sản phẩm phải thấp.

- Tránh gây thương tổn cho bò (trơn té do chuồng quá trơn láng hoặc đinh, sắt hàng rào làm trầy xước).

- Đủ diện tích cho bò khi ăn, uống, nằm nghỉ.

- Dễ dàng thu dọn phân, thu gom nước thải, thức ăn dư thừa.

- Thuận lợi cho việc cung cấp thức ăn, nước uống và duy trì vệ sinh môi trường.

Kiểu chuồng trại bò thịt thông thường là hai dãy có hành lang chăm sóc ở giữa. Sân nhốt bò nền bằng bê tông dốc 1,5-2% thoát nước xuôi ra ngoài hay đổ vào giữa. Máng nước uống xây bên ngoài sân nhốt bò. Thanh chắn ngăn cách giữa chuồng nhốt bò và hành lang chăm sóc là thanh chắn ngang song song hoặc thanh xiên 60 độ so với mặt nền. Máng ăn không xây thành cao mà cho ăn trực tiếp trên hành lang chăm sóc.

Một số thông số kỹ thuật tham khảo khi thiết kế chuồng nuôi

Cho bò trưởng thành

- Nếu làm chuồng một dãy xây máng ăn cao ngoài chuồng thì kích thước máng ăn rộng 80cm; cao mặt ngoài 50cm; cao mặt trong 25cm. Mỗi bò có 60-75cm chiều dài máng ăn. Nếu nuôi thả tự do thì 8 bò cần 1 máng uống.

- Diện tích chuồng và sân từ 7-9 m2/con, trung bình 8m2/con. Mỗi bò có 3m2 mái lợp còn lại là sân bê tông không cần mái che

- Ô bò nằm (cho bò sữa nuôi cầm cột): rộng 90-95 cm; dài 150-160 cm; cao thanh chắn: 105-110 cm, dài thanh chắn 1,0-1,05 m.

- Nền dốc 2,0-2,5%, tối đa 4,5%. Tốt nhất là nền ciment

- Mái cao tối thiểu 3m, lợp vật liệu cách nhiệt để chống nóng.

Cho bê con

- Cũi bê con: kích thước 1,2m*0,9m*0,9m, sàn cao cách mặt nền 30cm (thường dùng cho bê giống sữa)

- Bê con sau cai sữa: diện tích nền và sân tối thiểu 4 m2/con.

- Máng ăn thức ăn tinh cho bê ăn tự do (cho bê sữa và bê thịt) rộng 25cm, sâu 15cm, đáy máng ăn cao hơn nền 30cm, chiều dài 60 cm/bê.

Cho bê hậu bị

- Diện tích nền và sân: 6-7 m2/con.

- Máng ăn rộng 60-75cm nếu ăn 1 phía, và rộng 90-100cm nếu ăn 2 phía.

3.1.4. Quy hoạch đồng cỏ

Đồng cỏ trong trại được phân khu thành đồng cỏ trồng thâm canh thu cắt và đồng cỏ trồng cho chăn thả luân phiên.

Cơ cấu diện tích đất dành cho trồng cỏ thâm canh so với đồng cỏ chăn thả phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi chăn thả là chính hay nhốt là chính. Nuôi bò thịt theo phương thức chăn thả tiết kiệm được rất nhiều chi phí thức ăn và công lao động.

Phương thức này chỉ áp dụng được cho những trại có bãi chăn thả rộng (dưới tán cây lưu niên, bãi trống tự nhiên...). Những trại ít đất, giá thuê đất cao thì phương thức nuôi bán thâm canh là một lựa chọn thích hợp. Theo phương thức này bò được chăn thả có kiểm soát trên đồng và phần lớn thức ăn được cấp tại chuồng. Chúng ta có thể dễ dàng tính được số gia súc trong đàn và yêu cầu diện tích đất trồng cỏ thâm canh khi biết nhu cầu cỏ của bò trong một ngày đêm (tính bằng 10% khối lượng cơ thể) và năng suất thảm cỏ.

Đồng cỏ trồng thâm canh

Là đồng cỏ trồng các giống cỏ năng suất cao, được đầu tư phân bón, nước tưới và chủ động thu cắt vào giai đoạn thích hợp cho bò ăn tươi hay ủ ướp, làm cỏ khô.

Khu trồng cỏ thâm canh nên quy hoạch ở nơi đất bằng, thuận tiện chăm sóc, quản lí, gần chuồng trại để tận dụng nguồn nước thải và rút ngắn đường vận chuyển cỏ về chuồng.

Năng suất đồng cỏ trồng thâm canh biến động rất nhiều, tùy thuộc vào phẩm chất đất, giống cỏ, mức độ đầu tư (phân bón, nước tưới). Năng suất chất xanh (tươi) của các giống cỏ hòa thảo trồng phổ biến hiện nay trung bình là 24 tấn/ha cho 1 lứa cắt, khoảng cách cắt 35-36 ngày một lứa, một năm thu được 10 lứa cắt. Tổng cộng thu được 240 tấn/ha/năm (đủ cỏ nuôi được 20 con bò). Một số giống cỏ chịu phân bón, khi đủ phân và nước tưới có thể cho năng suất cao hơn nhiều. Nếu không chủ động tưới vào mùa khô thì ước chừng thu được 6 lứa cắt/năm, năng suất 125-150 tấn/ha/năm (đủ nuôi 12-13 con bò). Mỗi trại cần xác định năng suất thực của trại mình để xây dựng kế hoạch sản xuất.

3.1.5. Nhân sự

Nhân sự cần cho 1 trại bò có thể phân ra thành các nhóm với chức danh:

- Quản lí: gồm trại trưởng, kế toán, kế hoạch

- Kỹ thuật: gồm kỹ thuật trưởng, bác sĩ thú y, dẫn tinh viên, kỹ thuật viên.

- Công nhân: gồm chăn nuôi, trồng và thu cắt cỏ, cơ khí, lái máy, bảo vệ trại.

Khi quy mô trại nhỏ thì kỹ thuật trưởng thường kiêm nhiệm vai trò BSTY trưởng. Kỹ thuật viên kiêm nhiệm công việc của thú y viên và dẫn tinh viên. Họ được biên chế thành tổ kỹ thuật do kỹ thuật trưởng phụ trách

Bảng 3.2: Nhiệm vụ và yêu cầu đối với từng chức danh

(cho trại quy mô lớn từ 250 con bò cái sinh sản trở lên)

 

Theo: Đinh Văn Cải - Chăn nuôi bò thịt


Trở lại      In      Số lần xem: 5425
Tin tức khác
  • Danh sách tham khảo một số đơn vị cung ứng trâu, bò và dê giống
  • Danh sách thảm khảo các đơn vị cung cấp tinh bò sữa, bò thịt và thiết bị chăn nuôi
  • Sản xuất và sử dụng thức ăn cho bò
  • Quản lý sinh sản bò thịt
  • Ghi chép quản lí đàn gia súc
  • Giống bò thịt và phát triển giống bò thịt ở Việt Nam
  • Một số lưu ý khi sử dụng vắc xin lở mồm long móng cho gia súc
  • Kỹ thuật vỗ béo bò
  • Yêu cầu chuồng trại cho bò sữa
  • Tinh viên và tinh cọng rạ
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến

Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ

Địa Chỉ : KP Hiệp Thắng, Phường Bình Thắng, TX Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

Điện thoại : 0650 3739.899,  Fax : 0650 3739.899

Website: www.iasvn.vn, Email: iasvn@iasvn.vn

 

 Trực tuyến :  3
 Tất cả:  1537008
Designed & Powered by WEB SO CO.,LTD