Video

Ghi chép quản lí đàn gia súc

Thứ ba, 17/05/2016 - 10:10

1. Phân biệt cá thể (đánh số cho bò)

 

Người quản lí trại bò cần phải có trong tay những số liệu về đàn gia súc cũng như các thông tin cơ bản của mỗi con bò cụ thể như ngày sinh, ngày đẻ lứa trước, ngày phối giống, ngày cai sữa bê con.

 

Đối với những trại nhỏ điều này không có vấn đề gì vì người quản lí dễ dàng nhớ chi tiết mỗi con bò. Tuy nhiên, ở những trại lớn người quản lí trại sẽ rất khó khăn và không thể nhớ “lí lịch” từng con. Những trại có số đầu con lớn, cần những phương tiện hỗ trợ. Để có được những ghi chép chính xác vào các biểu mẫu quản lí, cần thiết lập hệ thống đánh số cho bò.

 

Phương pháp đánh số phải rẻ tiền và dễ áp dụng. Mặt khác, dấu hiệu của số phải bền và dễ đọc ngay từ xa hoặc ở bất cứ tình huống nào. Ví dụ trong khi chăn thả, tắm sát trùng và khi bò đang chen lấn trong đàn đông. Có nhiều cách đánh số cho bò nhưng nên chọn một phương pháp thích hợp nhất cho trại của mình.

 

Đóng dấu nung: Nung nóng số đúc bằng kim loại dí vào da vùng mông bò để tạo ra số. Cách này chủ yếu sử dụng trên bò thịt. Ưu điểm là dễ làm, rẻ tiền. Nhược điểm là đóng dấu nung không thể áp dụng đối với bê con, chỉ áp dụng trên gia súc trưởng thành, số nhìn xấu, đọc hay bị nhầm lẫn. Nếu gia súc có màu đen thì rất khó đọc. Đóng dấu nung cũng làm giảm giá trị da thú khi bán.

 

Đóng dấu lạnh: Phương pháp này sử dụng nitơ lỏng âm 190 độ C thay vì nung nóng. Số được đánh ở hai bên lưng bò chỗ da có màu tối. Số sau này do lông mọc từ vùng đóng số có màu trắng nên tạo ra số có màu trắng rất đẹp. Đối với bò có màu trắng thì số không thể nhìn thấy. Với phương pháp này da thú không bị tổn thương (chỉ có sắc tố da bị mất). Nhược điểm là khó thực hiện, tốn tiền nitơ. Cách này chủ yếu áp dụng cho bò sữa, và cũng chỉ đóng số khi bê tơ sau khi được chọn giữ lại làm giống.

 

Xâm tai: Số hoặc chữ được xâm vào mặt trong tai bò bằng kim xâm. Ưu điểm là dễ làm, áp dụng cho bê con cũng được. Nhược điểm là nếu không làm kĩ dấu xâm có chiều hướng nhạt màu đi. Khi muốn đọc dấu xâm thì phải giữ thú lại rất bất tiện.

 

Cắt tai hình chữ V: Đây là phương pháp đánh số đơn giản và rẻ tiền nhất. Nguyên tắc là dùng một mã số đã được quy định trước bằng vết cắt hình chữ V trên vị trí khác nhau của vành tai. Thí dụ vết cắt sát gốc tai là 5, vết cắt giữa vành tai là 3, vết cắt ở đầu tai là 1. Các số ở vành dưới tai phải (phía đối diện ta) mang giá trị ngàn, vành dưới tai trái mang giá trị trăm, hàng trên tai trái mang giá trị chục và hàng trên tai phải số mang giá trị đơn vị. Bất lợi của phương pháp này là khó đọc số từ khoảng cách xa. Khi cắt hai nhát liền nhau ở đầu tai để tạo số 2, số 7 thì hay bị đứt cụt đầu tai, dẫn đến đọc số sai.

 

Số đeo tai: Cách này phổ biến cho cả bò thịt bò sữa và các gia súc khác vì nó đơn giản. Có nhiều loại số để đeo vào tai bò, số kim loại hoặc số nhựa, số nhựa phổ biến hơn. Mỗi bò có số tai, có thể thêm số đuôi hoặc số chân. Số tai có hiệu quả cao nhưng nhược điểm là nó dễ bị mất, mực dễ bay màu, khó đọc khi đứng xa.

 

Số đeo cổ: Số được làm bằng nhựa, mỗi mảnh nhựa là một số sâu chuỗi với nhau trên dây đeo bản mỏng để tạo ra số của bò. Thường gặp ở bò sữa vì chi phí cao.

 

Ngoài các cách đánh số như trình bày ở trên, trong thực tế người ta còn dùng một số biện pháp nhận dạng hỗ trợ khác đề phòng khi số bị mất. Phương pháp phổ biến là vẽ phác họa hoặc chụp hình bò cả hai mặt (trái và phải). Ghi vào phiếu cá thể đặc điểm nhận dạng, nghĩa là những đặc điểm riêng có của cá thể không bị biến đổi theo thời gian.

 

2. Các biểu mẫu ghi chép quản lí đàn gia súc

 

Như đã nói ở trên, ngoài việc ghi chép đầy đủ các cá thể giúp cho việc quản lí, chủ trại cũng cần có những phương tiện hỗ trợ để giúp cho việc ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Các phương tiện thường sử dụng là:

 

Phiếu sinh sản bò cái

 

Phiếu này ghi lại toàn bộ diễn biến quá trình sinh sản của một bò cái từ chu kì lên giống đầu tiên đến khi kết thúc sinh sản. Phiếu được thiết kế cho một cá thể, thuận tiện cho việc sử lí số liệu sau này trên máy tính (chương trình Excel) để đánh giá các chỉ tiêu sinh sản của cá thể cũng như của toàn đàn. Khi phiếu được ghi chính xác, người dẫn tinh viên có đầy đủ thông tin để quyết định việc phối giống, khám thai, dự kiến ngày sinh của từng con bò. Người quản lí có trong tay nhiều thông tin có ích của mỗi cá thể bò như ngày đẻ dự kiến, tình trạng đẻ khó, viêm tử cung, động dục, phối giống, bệnh tật và các thông tin khác phục vụ cho công tác quản lí kỹ thuật và quản lí sản xuất (xem mẫu số 3).

 

Bảng xoay

 

Bảng xoay là một cách thể hiện trực quan tình trạng sinh sản của từng cá thể bò trong đàn. Đàn đông thì chia ra thành nhiều bảng, mỗi bảng cho khoảng 30-50 bò cái. Bảng xoay nên treo ở văn phòng trại hoặc đầu chuồng bò, những thông tin về tình trạng sinh sản chỉ cần nhìn qua đã biết.

 

Bảng xoay gồm một đĩa tròn được chia làm 12 phần. Mỗi phần là một tháng trong năm (từ tháng 1 đến tháng 12), mỗi tháng được chia thành các ngày theo tháng lịch. Tâm của đĩa xoay có trục quay gắn vào phần cố định ngoài đĩa tròn. Phía ngoài vành của đĩa, phần cố định ghi các mốc giai đoạn của chu kì sinh sản như: Ngày hôm nay (ngày lịch); Ngày phối giống (hoặc nhảy trực tiếp); Ngày kiểm tra sự đậu thai (70-80 ngày sau ngày phối giống cuối cùng); Ngày cai sữa bê con; Ngày đẻ dự kiến (chín tháng 5 ngày sau ngày phối giống đậu thai); đôi khi còn có ngày kiểm tra sự đậu thai lần hai (90 -100 ngày sau ngày phối giống đậu thai).

 

Mỗi ngày đĩa quay theo chiều kim đồng hồ một ngày để cho ngày trên vòng xoay của bảng trùng với ngày lịch tại vị trí “Ngày hôm nay”. Tên hoặc số của bò được viết trên giấy gắn vào đĩa xoay.

 

Chỉ liếc qua bảng xoay người quản lí sẽ biết được các thông tin một cách đầy đủ. Không cho trẻ em đến gần bảng quay. Không để trẻ em nghịch ngợm với bảng xoay.

 

Bảng trắng để ghi hàng ngày

 

Có thể dùng một chiếc bảng trống để ở đầu chuồng bò. Công nhân, nhân viên thú y, tài xế máy kéo, người quản lí trồng trọt và những người có quan hệ với trại có thể ghi chép vào bảng này. Sau đó những thông tin sẽ được nhập vào sổ cá thể của gia súc hoặc biểu mẫu khác của trại.

 

Phiếu cá thể bò cái (lí lịch)

 

Phiếu này ghi tất cả các thông tin cơ bản của bò cái từ lúc sinh ra đến khi loại thải khỏi đàn. Nếu ghi chép đầy đủ thì toàn bộ thông tin về hệ phả, sinh trưởng, sinh sản, bệnh tật và tiêm phòng đều có sẵn trên một tờ phiếu dù con bò đó có đẻ đến 10 lứa. Mỗi bò có một lí lịch và được cập nhật số liệu và cất giữ cẩn thận trong suốt cuộc đời bò.

 

Những thông tin được ghi vào lí lịch:

Số hiệu bò (có thể kèm theo tên). Số hiệu bố, ông nội, số hiệu mẹ, ông ngoại; Ngày sinh; giống, nếu giống lai thì ghi rõ tỷ lệ máu lai; Nguồn gốc từ trong trại hay mua ở nơi khác về; Khối lượng sơ sinh, sinh trưởng qua các mốc 3; 6; 9; 12; 18 tháng và khối lượng khi sinh bê lứa 1 đến lứa 3. Thành tích sinh sản được ghi chính xác qua các lứa. Mỗi lứa ghi rõ số lần phối giống, đực giống, bê con sinh ra đực và cái, khoảng cách lứa đẻ giữa các lứa. Bệnh tật và điều trị bệnh, tiêm phòng và các thông tin khác như xuất bán, giá bán...

 

Ngay khi bê đẻ ra hoặc mua một bò mới về trại phải được ghi vào một lí lịch mới. Mọi thông tin mới phải cập nhật vào phiếu kịp thời.

 

 

Nguồn: Đinh Văn Cải – Chăn nuôi bò thịt


Trở lại      In      Số lần xem: 4088
Tin tức khác
  • Danh sách tham khảo một số đơn vị cung ứng trâu, bò và dê giống
  • Danh sách thảm khảo các đơn vị cung cấp tinh bò sữa, bò thịt và thiết bị chăn nuôi
  • Sản xuất và sử dụng thức ăn cho bò
  • Quản lý sinh sản bò thịt
  • Xây dựng trại bò thịt
  • Giống bò thịt và phát triển giống bò thịt ở Việt Nam
  • Một số lưu ý khi sử dụng vắc xin lở mồm long móng cho gia súc
  • Kỹ thuật vỗ béo bò
  • Yêu cầu chuồng trại cho bò sữa
  • Tinh viên và tinh cọng rạ
Liên kết website
Hỗ trợ trực tuyến

Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ

Địa Chỉ : KP Hiệp Thắng, Phường Bình Thắng, TX Dĩ An, Tỉnh Bình Dương

Điện thoại : 0650 3739.899,  Fax : 0650 3739.899

Website: www.iasvn.vn, Email: iasvn@iasvn.vn

 

 Trực tuyến :  2
 Tất cả:  1647555
Designed & Powered by WEB SO CO.,LTD